Trong
cách mạng Tháng Tám, Tuyên Quang vinh dự là Thủ đô Khu giải phóng, được
Trung ương Đảng và Bác Hồ chọn làm trung tâm của cách mạng cả nước. Tại
Tân Trào-Sơn Dương - Tuyên Quang đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử gắn
liền với vận mệnh dân tộc: Hội nghị toàn quốc của Đảng quyết định chủ
trương lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền và cử ra Uỷ
ban khởi nghĩa toàn quốc; Quốc dân Đại hội họp tại đình Tân Trào thành
lập Uỷ ban dân tộc giải phóng tức Chính phủ lâm thời do Bác Hồ làm Chủ
tịch.
Trong
những năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Tuyên
Quang là Thủ đô Kháng chiến, nơi đồng bào cả nước " trông về Việt bắc mà
nuôi chí bền"; nhân dân các dân tộc Tuyên Quang đã luôn luôn làm tròn
nhiệm vụ thiêng liêng: Xây dựng, bảo vệ An toàn khu (ATK); bảo vệ Bác
Hồ, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận cùng nhiều bộ, ban,
ngành Trung ương; bảo vệ các cơ quan đầu não của Cách mạng Lào. Đảng bộ
và nhân dân các dân tộc Tuyên Quang đóng góp phần quan trọng, to lớn vào
cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, lập nhiều chiến công vang dội
trên chiến trường, đập tan các cuộc tấn công lên Việt Bắc của giặc Pháp.
Bình Ca, Cầu Cả, Khe Lau..., là những địa danh lịch sử làm rạng rỡ tinh
thần chiến đấu quả cảm, mưu trí, sáng tạo của quân, dân Tuyên Quang
trong chiến dịch Việt Bắc (Thu - Đông 1947).
Tại
Tuyên Quang, nhiều hội nghị quan trọng của Trung ương Đảng, Chính phủ
được triệu tập. Đặc biệt, Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ II
(họp tại Kim Bình, Chiêm Hoá từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 2 năm 1951),
là Đại hội đầu tiên của Đảng được tổ chức ở trong nước. Đại hội đã bổ
sung, hoàn chỉnh đường lối kháng chiến, kiến quốc, đề ra nhiệm vụ xây
dựng Đảng Lao động Việt Nam vững mạnh, quyết định những chủ trương, biện
pháp đưa cuộc kháng chiến trường kỳ, oanh liệt của dân tộc ta đến thắng
lợi. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Đảng bộ và nhân
dân các dân tộc Tuyên Quang tiếp tục xây dựng hậu phương vững mạnh, làm
tròn nhiệm vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn, đánh thắng cuộc
chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp
giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Truyền thống yêu nước, đoàn
kết, cách mạng, tinh thần đấu tranh anh dũng của lớp lớp cán bộ, đảng
viên và nhân dân các dân tộc Tuyên Quang đã để lại những bài học quý
giá, những tấm gương sáng ngời cho các thế hệ mai sau học tập, noi
theo.
Trong
công cuộc đổi mới, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Tuyên Quang tiếp tục
phát huy truyền thống vẻ vang của quê hương cách mạng, quyết tâm vượt
qua mọi khó khăn, khai thác tiềm năng, phát huy thế mạnh của địa
phương, chủ động hội nhập kinh tế, tạo bước đột phá mạnh mẽ trong phát
triển kinh tế-xã hội, tranh thủ sự đóng góp, giúp đỡ của Trung ương và
các bộ, ngành, các địa phương trong cả nước và các tổ chức quốc tế, thực
hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ do Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh
lần thứ XV đề ra, phấn đấu đưa Tuyên Quang trở thành một tỉnh phát triển
toàn diện, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được
nâng cao, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
BBt
Điều kiện tự nhiên |
Thứ 2, ngày 23 tháng 7 năm 2012 - 9:44
|
Vị
trí địa lý: Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc có toạ độ địa lý
21030'- 22040' vĩ độ Bắc và 104053'- 105040' kinh độ Ðông, cách Thủ đô
Hà Nội 165 Km. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5.868 km2, chiếm 1,78%
diện tích cả nước. Các đường giao thông quan trọng trên địa bàn tỉnh là
quốc lộ 2 đi qua địa bàn tỉnh dài 90 km từ Phú Thọ lên Hà Giang, quốc lộ
37 từ Thái Nguyên đi qua huyện Sơn Dương, Yên Sơn đi Yên Bái. Hệ thống
sông ngòi của tỉnh bao gồm 500 sông suối lớn nhỏ chảy qua các sông chính
như: Sông Lô, Sông Gâm, Sông Phó Ðáy. |
Ðịa hình: Tuyên Quang bao gồm vùng núi cao chiếm trên 50% diện tích toàn
tỉnh gồm toàn bộ huyện Na Hang, Lâm Bình, xã vùng cao của huyện Chiêm
hoá và 02 xã của huyện vùng cao Hàm Yên; vùng núi thấp và trung du chiếm
khoảng 50% diện tích của tỉnh, bao gồm các xã còn lại của 02 huyện
Chiêm Hoá, Hàm Yên và các huyện Yên Sơn, Sơn Dương. Ðiểm cao nhất là
đỉnh núi Chạm Chu (Hàm Yên) có độ cao 1.587 m so với mực nước biển.
Khí
hậu: Mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí
hậu lục địa Bắc Á Trung Hoa có 2 mùa rõ rệt: Mùa đông lạnh - khô hạn và
mùa hè nóng ẩm mưa nhiều; mưa bão tập trung từ tháng 5 đến tháng 8 và
thường gây ra lũ lụt, lũ quét. Các hiện tượng như mưa đá, gió lốc thường
xảy ra trong mùa mưa bão với lượng mưa trung bình hàng năm đạt từ 1.500
- 1.700 mm. Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 220 - 240 C. Cao nhất trung bình 330 - 350 C, thấp nhất trung bình từ 120 - 130 C; tháng lạnh nhất là tháng 11 và 12 (âm lịch), hay có sương muối.
|
Tài nguyên |
Thứ 2, ngày 23 tháng 7 năm 2012 - 9:36
|
Với
tổng diện tích tự nhiên 586.800 ha, tỉnh Tuyên Quang có quy mô diện
tích ở mức trung bình so với cả nước, bình quân diện tích tự nhiên theo
đầu người là 0,87 ha/người (năm 2004). Đất đai Tuyên Quang tương đối
tốt, có thể tạo ra vùng chuyên canh chè, mía, lạc cung cấp nguyên liệu
cho công nghiệp chế biến. Diện tích đất nông nghiệp: 70.195 ha, chiếm
11,96%, đất lâm nghiệp có rừng 445.848 ha, chiếm 76,16%, đất ở 5.156 ha
và đất chưa sử dụng 26.765 ha. |
Đất đai Tuyên Quang được phân chia làm các khu vực sau:
- Khu vực núi cao phía Bắc: Gồm toàn bộ huyện Na Hang, Lâm Bình và các
xã vùng cao của các huyện Chiêm Hoá, Hàm Yên, Yên Sơn. Diện tích toàn
khu vực này chiếm khoảng trên 50% diện tích tự nhiên của tỉnh, phù hợp
với việc khoanh nuôi rừng tự nhiên và trồng rừng, phát triển kinh tế lâm
- nông nghiệp.
-
Khu vực núi thấp: Gồm các xã phía Nam của các huyện Chiêm Hoá, Hàm Yên,
Yên Sơn và Sơn Dương. Diện tích khu vực này chiếm 40% diện tích tự
nhiên của tỉnh. Đồi núi ở đây có độ dốc phổ biến 100 đến 250, thích hợp
cho trồng cây công nghiệp dài ngày, cây lương thực và cây ngắn ngày
khác.
-
Khu vực đồi và thung lũng dọc sông Lô, sông Phó Đáy gồm Thành phố Tuyên
Quang và phần còn lại của các huyện Yên Sơn, Sơn Dương với diện tích
khoảng 10% diện tích tự nhiên của tỉnh. Khu vực này đang và sẽ là địa
bàn trọng điểm sản xuất công nghiệp, phát triển các trung tâm kinh tế -
xã hội lớn của tỉnh.
-
Lâm nghiệp là tiềm năng, thế mạnh để phát triển kinh tế của tỉnh. Độ
che phủ của rừng năm 2005 đạt 63 %. Đặc biệt rừng Tuyên Quang có một hệ
thực vật rất phong phú với 760 loài của 349 chi, 126 họ thuộc 8 ngành
thực vật bậc cao có mạch, đó là: hạt kín, thông, tuế, thông đất, khuyết
lá thông, cỏ tháp bát, dương xỉ, dây gắm. Ngoài ra, còn có 207 loài cây
gỗ cao từ 10 mét trở lên thuộc 60 họ, các loài dây leo thuộc 17 họ và có
trên 20 loài thực vật bậc cao, thuỷ sinh thuộc các họ hoà thảo, cói,
rong, tóc tiên, rong mái chèo,… Theo danh mục trong sách đỏ Việt Nam,
tỉnh Tuyên Quang có 18 loài thực vật quý hiếm như: Trầm hương, nghiến,
lát hoa, tuế đá vôi, hoàng đàn, pơ mu.
-
Kết quả kiểm kê rừng (theo Chỉ thị 286/CT – TTg của Thủ tướng Chính
phủ), rừng gỗ chiếm 2/3 diện tích rừng toàn tỉnh, trữ lượng 16.116.000
m3 gồm các loại như keo, lát, mỡ, bạch đàn, thông, xoan, tếch, bồ
đề…Trong đó, cây keo và bồ đề có trữ lượng lớn nhất (từ 550.000 –
650.000 m3 mỗi loại), tiếp đến là mỡ và thông mỗi loại từ 120.000 –
300.000 m3; cây gỗ lát khoảng 66,5 tỷ cây. Ngoài ra, có rừng đặc sản là
quế, diện tích xấp xỉ 4.000 ha nhưng có giá trị kinh tế rất cao.
-
Tài nguyên khoáng sản: Theo sổ mỏ và điểm quặng tỉnh Tuyên Quang do Cục
Địa chất Việt Nam – Bộ Công nghiệp biên soạn năm 1994 và tài liệu của
các ngành hữu quan, tỉnh Tuyên Quang có 163 điểm mỏ với 27 loại khoáng
sản khác nhau được phân bố ở các huyện trong tỉnh. Trong đó đứng hàng
đàu về trữ lượng và chất lượng là quặng sắt, barit, cao lanh, thiếc,
mangan, chì-kẽm, angtimon...là yếu tố hết sức thuận lợi cho phát triển
công nghiệp khai thác , chế biến khoáng sản và công nghiệp chế biến vật
liệu xây dựng.Trữ lượng, chất lượng của từng loại khoáng sản được đánh
giá như sau:
* Mỏ kim loại:
-
Sắt: Đã phát hiện 17 điểm mỏ quặng với tổng trữ lượng dự báo khoảng 7
triệu tấn. Một vài điểm quặng có trữ lượng đáng kể như điểm Phúc Ninh,
điểm Tân Tiến, điểm Cây Nhãn (huyện Yên Sơn), trữ lượng lần lượt khoảng
2,4 triệu tấn, 2,2 triệu tấn và 0,5 triệu tấn; điểm Cây Vầu (huyện Hàm
Yên) trữ lượng lkhoảng 1,5 triệu tấn.
-
Thiếc: Đã phát hiện 12 điểm có quặng, tập trung ở huyện Sơn Dương. Tổng
trữ lượng cả quặng gốc và quặng sa khoáng đạt xấp xỉ 28.239 tấn SnO2.
-
Mangan: Có 8 điểm mỏ tập trung chủ yếu ở huyện Chiêm Hoá (7 điểm) và
huyện Na Hang (1 điểm). Đã có 2 điểm được thăm dò là Nà Pết, Phiêng Lăng
(huyện Chiêm Hoá) với trữ lượng dự báo khoảng trên 2,416 triệu tấn.
-
Chì - kẽm: Có 24 điểm mỏ, tập trung ở thành phố Tuyên Quang, huyện Yên
Sơn, Sơn Dương, Chiêm Hoá và Na Hang. Mới có 6 điểm mỏ được đánh giá trữ
lượng ở cấp C2 = 195.927 tấn Pb Zn. Hàm lượng Pb<10%; Zn<30%.
Tổng trữ lượng cả cấp dự báo là 1.590.000 tấn chì - kẽm kim loại. Quặng
kẽm dùng để luyện ô xít kẽm ZnO phục vụ công nghệ hoá chất, công nghệ
nhẹ và y tế và luyện kẽm kim loại.
-
Angtimoan: Đã phát hiện 15 điểm, trong đó Chiêm Hoá có 10 điểm, Na Hang
4 điểm, Yên Sơn 1 điểm. Có 4 điểm là Khuôn Phục, Hoà Phú, Làng Vài, Cốc
Táy (Chiêm Hoá) đã được thăm dò với trữ lượng khoảng 1,2 triệu tấn.
* Mỏ không kim loại:
-
Barit : Đã phát hiện 24 điểm quặng thuộc các huyện Sơn Dương, Yên Sơn
và Chiêm Hoá. Các điểm thăm dò gồm: Ao Sen, Hang Lương, Thiện Kế, Ngòi
Thia, Đùng Bùng (Sơn Dương); Làng Chanh, Xóm Hoắc, Xóm Húc (Yên Sơn) và
Hạ Vị (Chiêm Hoá), có trữ lượng trên 2 triệu tấn và hầu hết là mỏ lộ
thiên, điều kiện khai thác khá thuận lợi. Đây là loại khoáng sản có tiềm
năng và ý nghĩa xuất khẩu lớn đối với nền kinh tế của Tuyên Quang.
-
Đá vôi xây dựng: Trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang có rất nhiều điểm mỏ đá
vôi đạt chất lượng tốt trong xây dựng. Theo tài liệu địa chất đánh giá
tại 9 điểm mỏ đá vôi (Tràng Đà - thành phố Tuyên Quang; ...) có tổng trữ
lượng cấp P2: 783 triệu m 3, chất lượng tốt, trữ lượng tập trung, cho
khả năng sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng quy mô lớn và tại chỗ.
-
Cao lanh – fenspat: Có nhiều điểm rải rác như Hào Phú, Vân Sơn (Sơn
Dương), Nghiêm Sơn (Yên Sơn). Lớn nhất là điểm mỏ Đồng Gianh (Sơn Dương)
có 11 thân quặng với trữ lượng dự báo khoảng 5 triệu tấn. Điểm mỏ cao
lanh Hào Phú (Sơn Dương) trữ lượng dự báo 1,411 triệu tấn. Điểm mỏ cao
lanh Thái Sơn (Hàm Yên) trữ lượng dự báo 1,075 triệu tấn.
-
Nước khoáng – nước nóng: Có 2 điểm đáng chú ý là Bình Ca và Mỹ Lâm.
Trong đó mỏ nước khoáng Mỹ Lâm có trữ lượng nước khoáng là là 1.474
m3/ngày cấp B C1 C2, trong đó cấp B: 492 m 3/ngày; cấp C 2: 248 m
3/ngày.
Ngoài
các loại khoáng sản trên, Tuyên Quang còn có nhiều loại khoáng sản khác
như vônfram, pirit, kẽm, chì, đất sét, vàng, cát sỏi,… nằm rải rác cũng
là tiềm năng để phát triển các điểm công nghiệp gắn với vùng nguyên
liệu.
Ban Biên tập
|
Tuyên Quang - Dấu son trong lòng Tổ quốc |
Thứ 6, ngày 13 tháng 7 năm 2012 - 14:54
|
Ngày
4/11/1831, dưới triều vua Minh Mạng, tỉnh Tuyên Quang chính thức được
thành lập với tư cách là một đơn vị hành chính cấp tỉnh trực thuộc Trung
ương. Đây là bước ngoặt có ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng, khẳng
định sự phát triển của Tuyên Quang đã sánh ngang với các tỉnh, thành phố
trong cả nước, đồng thời, nhân lên vị thế, tầm vóc một vùng đất gốc,
cốt lõi của quốc gia, mở ra một thời kỳ phát triển mới của Tuyên Quang,
gắn liền với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc.
|
Chương trình văn nghệ "Tuyên Quang - Dấu son trong lòng Tổ quốc"
chào mừng Lễ kỷ niệm 180 năm thành lập tỉnh Tuyên Quang
được tổ chức vào ngày 29/10/2011 tại Trung tâm Hội nghị tỉnh
Từ thời
Hùng Vương dựng nước Văn Lang, Tuyên Quang luôn được coi là vùng đất có
vị trí chiến lược, “là phên giậu của trung châu, cũng là nơi địa đầu
quan yếu của Tổ quốc”. Trong lịch sử, Tuyên Quang được các triều đình
phong kiến nhiều lần khẳng định, xác lập là đơn vị hành chính trực thuộc
trung ương với các tên gọi khác nhau như châu, trấn, lộ, thừa tuyên,
xứ... Nhưng đến năm Tân Mão 1831, niên hiệu Minh Mạng thứ 11, vua Minh
Mạng tiến hành cuộc cải cách hành chính Bắc Hà, chia địa hạt 18 tỉnh từ
Quảng Trị trở ra, tỉnh Tuyên Quang chính thức được hình thành trong cuộc
cải cách hành chính này với một địa giới hành chính rộng lớn, bao gồm
cả tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang và một số huyện thuộc các tỉnh Cao Bằng,
Yên Bái ngày nay, đáp ứng nhu cầu xây dựng và phát triển của nước Đại
Nam thời kỳ đó. Kết quả nghiên cứu khoa học của các nhà sử học hàng đầu
Việt Nam đã khẳng định: Mùa đông tháng 10 năm Tân Mão, tức ngày
4/11/1831 được coi là thời điểm sớm nhất Tuyên Quang có danh xưng đầy đủ
và rõ ràng, được công nhận bởi chính quyền Nhà nước, có bộ máy hành
chính cấp tỉnh trực thuộc trung ương, tính đến nay vừa tròn 180 năm. Kết
luận này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là cơ sở để Tuyên Quang tổ chức
lễ kỷ niệm 180 năm ngày thành lập, khẳng định những đóng góp to lớn của
vùng đất này trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ
nước của dân tộc, đáp ứng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân về cội nguồn
hình thành và phát triển của quê hương.
Tuyên Quang, vùng đất gốc, cốt lõi, nhân
tố hợp thành của Tổ quốc Việt Nam đã, đang và mãi mãi hòa vào dòng chảy
lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Cùng với các
tỉnh, thành phố trong cả nước, đặc biệt là 18 tỉnh được xác lập vào thời
điểm 4-11-1831, Tuyên Quang đã tưng bừng kỷ niệm 180 năm thành lập tỉnh
với nhiều hoạt động thiết thực, tạo nên khí thế thi đua sôi nổi, cổ vũ
nhân dân các dân tộc trong tỉnh phát huy truyền thống quê hương cách
mạng, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện sự nghiệp đổi mới, sớm đưa Tuyên Quang
ra khỏi tình trạng kém phát triển, vững bước đi lên trên con đường công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân
chủ, công bằng, văn minh, xứng đáng với truyền thống lịch sử, Thủ đô Khu
giải phóng, Thủ đô Kháng chiến, dấu son trong lòng Tổ quốc Việt Nam.
Cơ sở hạ tầng |
Thứ 2, ngày 23 tháng 7 năm 2012 - 9:13
|
|
- Hệ
thống đường giao thông: Tuyên Quang có các đường giao thông quan trọng
như Quốc lộ 2 đi qua địa bàn tỉnh 90 km ( từ xã Đội Bình huyện Yên Sơn
đến xã Yên Lâm huyện Hàm Yên) nối liền Thủ đô Hà Nội, Phú Thọ với Tuyên
Quang và Hà Giang, Quốc lộ 37 từ Thái Nguyên đi qua huyện Sơn Dương, Yên
Sơn đi Yên Bái, Quốc lộ 2C từ thành phố Vĩnh Yên lên Sơn Dương và thành
phố Tuyên Quang. Toàn tỉnh có 340,6 km đường quốc lộ; 392,6km đường
tỉnh; 579,8 đường huyện; 141,71 km đường đô thị; kết cấu mặt đường bao
gồm các loại: cấp phối, thâm nhập nhựa và bê tông. Đến nay, 100% xã,
phường, thị trấn, 96,3% thôn, bản có đường ô tô đến trung tâm.Tỉnh đã
hoàn thành quy hoạch tổng thể mạng lưới giao thông đến năm 2010 và định
hướng phát triển đến năm 2020. Trong tương lai, Tuyên Quang có một hệ
thống giao thông hoàn chỉnh gồm đường bộ, đường thuỷ, đường sắt. Trong
đó có những tuyến giao thông huyết mạch, chiến lược của cả nước đi qua
địa phận tỉnh như: đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 279, đường cao tốc Hải
Phòng - Côn Minh, đường sắt Thái Nguyên- Tuyên Quang- Yên Bái, Tuyến
đường sông Việt Trì - Tuyên Quang- Hạ lưu thuỷ điện Tuyên Quang. Hệ
thống giao thông này sẽ làm thay đổi một cách căn bản địa kinh tế của
tỉnh, tạo điều kiện thu hút đầu tư và mở rộng giao thương để phát triển.
-
Hệ thống điện: Tuyên Quang được cung cấp điện mua từ Trung Quốc theo
tuyến điện 110 kV từ cửa khẩu Thanh Thuỷ (Hà Giang) đến trạm 110 kV Hà
Giang, qua trạm Bắc Quang, qua đường dây 110 KV Bắc Quang - Hàm Yên
cấp điện cho 2 trạm biến áp 110 kV của tỉnh là Tuyên Quang và Chiêm Hoá.
Ngoài ra Tuyên Quang có thể nhận nguồn cung cấp dự phòng từ tỉnh Yên
Bái (nhà máy thuỷ điện Thác Bà) và tỉnh Thái Nguyên (trạm 220 KV Thái
Nguyên) qua đường dây 110KV Thác Bà - Thái Nguyên. Trên địa bàn tỉnh
Tuyên Quang có 613 trạm biến áp các loại; 1.447,8 km đường dây tải điện
từ 6 KV - 35KV.
-
Thông tin liên lạc: Đến nay mạng lưới thông tin liên lạc tiếp tục phát
triển, 100% trung tâm huyện, thị phủ sóng điện thoại di động, 100 % xã,
phường, thị trấn có điện thoại, hầu hết các xã, phường, thị trấn có nhà
bưu điện văn hoá xã; 100% số xã có thư báo trong ngày; 100% huyện, thị
có trạm thu phát truyền hình, 80% dân số được nghe đài phát thanh;
75% dân số được xem truyền hình. Phủ sóng di động tới các khu, cụm công
nghiệp, dịch vụ, khu đông dân cư và các tuyến quốc lộ.
-
Hệ thống cấp nước sinh hoạt: Tuyên Quang đã và đang tổ chức đầu tư xây
dựng nhằm tăng số người được sử dụng nước sạch. Những năm qua tỉnh đã
chú trọng đầu tư xây dựng các công trình cấp nước tập trung và cấp nước
nhỏ để cho nhân dân miền núi cao và nông thôn được sử dụng nước sạch.
-
Hệ thống ngân hàng, tài chính: Hệ thống ngân hàng của Tuyên Quang bao
gồm các chi nhánh: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển; Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn; Ngân hàng Chính sách xã hội; Ngân hàng
phát triển; Ngân hàng Công Thương, có lực lượng nhân viên đủ năng lực và
trình độ để phục vụ nhu cầu của các nhà đầu tư trong và ngoài nước (như
vay vốn, chuyển tiền, thanh toán, bảo lãnh...) với thời gian nhanh nhất
qua hệ thống giao dịch điện tử hiện đại.
- Toàn tỉnh có 05 trường giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề, gồm Trường
Cao đẳng Tuyên Quang, Trường Trung học Kinh tế kỹ thuật, Trường Trung
học Y tế và Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật - Công nghệ Tuyên Quang,
Trường Trung cấp nghề tư thục Công nghệ và quản trị. Hàng năm, các
trường có khả năng đào tạo hàng trăm giáo viên, cán bộ y tế và hàng
nghìn cán bộ có trình độ trung học chuyên nghiệp, công nhân lành nghề.
-
Mạng lưới y tế tiếp tục được củng cố và phát triển, từng bước đáp ứng
yêu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân. 100% số xã có trạm y tế xã,
phường; hệ thống bệnh vện tuyến tỉnh, huyện và các bệnh viện, phòng
khám đa khoa khu vực với trang thiết bị ngày càng được đầu tư
hiện đại, đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh của nhân dân.
Ban Biên tập
|
Đình làng một mảnh hồn quê |
Thứ 3, ngày 5 tháng 3 năm 2013 - 15:28
|
Từ
bao đời nay, hình ảnh cây đa, bến nước, sân đình đã đi vào tâm thức của
người dân đất Việt nói chung và người dân Tuyên Quang nói riêng. Mái
đình gắn với mỗi ngôi làng với những nét đẹp, một “mảnh hồn” riêng, để
ai đi xa cũng luôn nhớ về. |
Đình
làng là công trình kiến trúc công cộng dân dụng. Đây là nơi thờ các vị
Thành Hoàng làng, những người được cho là có công lao to lớn đối với
làng, được dân làng ghi nhận. Ngoài Thành Hoàng làng, đình làng có thể
thờ các vị thần, thánh khác. Đình làng trong con mắt của dân làng rất uy
nghiêm, linh thiêng, bảo vệ, che chở cho dân làng trước các biến cố
của tự nhiên và xã hội; là nơi để nhân dân gửi gắm niềm tin, hy vọng
vào cuộc sống tốt đẹp hơn. Chính vì thế, vào các ngày lễ tết, dân làng
thường tới đình thắp hương tế lễ, cầu mong Thành Hoàng làng và trời đất
phù hộ cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và có nhiều phúc lành.
Đây cũng là dịp để tưởng niệm công ơn các vị thần và dịp này người ta
thường tổ chức hội đình.
Xã Tân Trào (Sơn Dương) hàng năm tổ chức Lễ hội Đình làng
vào ngày 4 tháng Giêng. Ảnh: Nguyễn Chính
Trên địa bàn tỉnh ta hiện nay có hàng trăm ngôi đình làng lớn nhỏ. Nhiều ngôi đình đã bị xuống cấp theo thời gian đã và đang
được trùng tu, tôn tạo vẫn giữ được dáng vẻ cổ xưa. Mỗi ngôi đình được
xây dựng với một kiểu kiến trúc khác nhau nhưng hầu hết, các ngôi đình
đều là trung tâm phục vụ cho mọi sinh hoạt thuộc về cộng đồng làng xã:
Nơi hội họp của dân làng, nơi khai diễn những nét tài năng, tư duy của
dân làng, nơi diễn ra các lễ hội làng truyền thống, nơi sinh hoạt văn
hóa, văn nghệ của làng, nơi dạy học cho con trẻ, nơi thể hiện những tín
ngưỡng tôn giáo đặc trưng... Nhiều ngôi đình còn là những chứng tích
lịch sử đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của
dân tộc ta như đình Thanh La, xã Minh Thanh; đình Tân Trào, xã Tân
Trào (Sơn Dương).
Đình Tân Trào là một ngôi đình nhỏ thờ thần sông, núi của làng Tân Lập,
xã Tân Trào (Sơn Dương). Đình được dựng vào năm Quý Hợi (1923) theo
kiểu kiến trúc ba gian, thuần gỗ. Ngôi đình đã đi vào lịch sử Việt Nam.
Tại đây, ngày 16 và 17 tháng 8-1945, Quốc dân Đại hội đã họp thông qua
Lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền và 10 chính sách lớn của Việt
Minh, bầu ra Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam (tức Chính phủ lâm
thời) do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Tại đây, hàng năm, cứ vào mồng 4 tháng Giêng, Lễ hội Cầu mùa của người
dân tộc Tày lại được long trọng tổ chức. Lễ hội Cầu mùa được duy trì từ
nhiều năm nay tại đình Tân Trào có ý nghĩa cả về mặt tâm linh cũng như
giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, là hoạt động không thể thiếu
trong đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân vùng chiến khu cách mạng
Tân Trào mỗi dịp tết đến xuân về. Phần lễ được tổ chức một cách trang
nghiêm, thành kính còn phần hội sôi động với những trò chơi dân gian
đặc sắc như tung còn, kéo co, đẩy gậy, bắt chạch trong chum, leo cầu
vồng, tắc kè gọi mưa... Các tích trò tái hiện cảnh lao động sản xuất
của người nông dân như cày bừa, bắt tôm cá… và cả những tích trò mang ý
nghĩa giáo dục nhân văn sâu sắc như: Thầy đồ dạy học, làm Then tìm vợ,
bán thuốc… Nhiều làn điệu hát Then, hát Cọi cũng đã được các “nghệ sỹ
làng” biểu diễn rất công phu. Tất cả đều thể hiện lòng biết ơn đối với
vị Thành Hoàng làng và 8 vị Đại vương được thờ cúng tại đình và ước
mong có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Rước lễ tại Đình làng Giếng Tanh, xã Kim Phú (Yên Sơn). Ảnh: Quang Huy
Đình
làng Giếng Tanh, xã Kim Phú (Yên Sơn) được xây dựng vào khoảng năm
Bính Tuất (1706), thờ hai vị tướng của Vua Hùng là “Đức vua cả Ngọc Sơn
quân linh ứng đại vương”, “Đức vua cả Nghiêm Sơn trung chính lệnh ứng
đại vương”, Quốc mẫu Thiểm Hoa công chúa, Thần Nông, Thần Thổ địa và
Long Vương. Đó là những vị thánh, thần bảo hộ, phù trợ cho dân làng và
nghề nông của làng. Hàng năm, cứ đến ngày mồng 9, mồng 10 tháng Giêng,
hội đình làng Giếng Tanh lại trở nên náo nhiệt. Nếu trước đây, lễ hội
này chỉ là nét sinh hoạt văn hoá của người dân tộc Cao Lan bản địa, thì
bây giờ lễ hội đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa của đông đảo người
dân tộc xã Kim Phú nói riêng và của đồng bào các dân tộc tỉnh Tuyên
Quang nói chung. Lễ hội đình Giếng Tanh cũng thực hiện các nghi thức
cúng, rước mang đậm bản sắc của người dân tộc Cao Lan. Ngoài ra, cũng
tổ chức nhiều trò chơi dân gian đặc sắc như: Kéo co, đẩy gậy, tung còn,
tắm lửa... Làn điệu Sình Ca êm ái, đắm say hay điệu múa “Chim gâu”,
“Xúc tép”, “Khai đèn” thực sự hấp dẫn lòng người trong ngày hội.
Qua những lễ hội được tổ chức tại các đình làng, giá trị của văn hóa
truyền thống của các dân tộc ngày càng được tôn vinh. Đình làng thực sự
là tài sản văn hóa, lịch sử vô giá và thiêng liêng của người dân đất
Việt.
Theo TQĐT
Bài ca huyền thoại dân gian Tày: Về ngày, đêm, năm, tháng |
Thứ 2, ngày 11 tháng 3 năm 2013 - 8:49
|
Tuyên
Quang là miền quê có truyền thống văn học dân gian phong phú đa sắc
tộc, trong đó phải kể đến kho tàng thơ ca dân gian Tày chứa bao điều kì
thú về thế giới tâm hồn tư tưởng của đồng bào. Dường như ở văn học dân
gian dân tộc Kinh có cảm thức gì về vũ trụ nhân sinh thì trong văn học
dân gian Tày cũng có những cảm thức tương đồng như vậy. Song do những
đặc điểm riêng về môi trường sinh thái, truyền thống phong tục và ngôn
ngữ nên mỗi hiện tượng nghệ thuật ở mỗi cộng đồng dân tộc lại mang sắc
thái thẩm mĩ riêng. |
Biểu diễn giã cốm của dân tộc Tày (Chiêm Hóa) tại Ngày hội Văn hóa Thể thao các dân tộc vùng Đông Bắc năm 2012. Ảnh: Hùng Cường
|
Cũng
như lối tư duy thần thoại ngây thơ của người Kinh, tư duy thần thoại
của người Tày cũng hồn nhiên, chất phác. Di sản thơ ca dân gian Tày từng
được giới thiệu trên sách báo đầu thế kỷ XX đã đem đến cho bạn đọc
đương thời cái nhìn mới về kho báu dân gian ở một xứ lâm tuyền. Người
Kinh có những câu chuyện về nguồn gốc vũ trụ thì người Tày cũng có những
câu chuyện về thời gian được biểu hiện bằng lời ca tiếng hát. Sau đây
xin đề cập đến một bài ca về nguồn gốc ngày đêm năm tháng (Vằn, đăm,
pi, bươn) của đồng bào:
Mừa có nàng Xuân thị pà đang
Mỗi vằn khẩu sơn lâm phạt rầy.
Đét lai khẩu cốc may đỏ khăm,
Mừa cón thíp thoong tha vằn thượng đế,
Đét chỏi lùng hạ thế rọn lai
Xuân thị nàng chắng thai chang rầy.
Vua Nghiêu nghị đơ xấy chắng khôm,
Chắng au mạy hết cung khửn bẳn
Tha vằn tốc lùng nặm pây dăm.
Thiên hạ mọi tì đăm lẹo thuổn
Thiên hạ cần lo khổn lo lai
Lình cặng cót khò thai chại mạy
Đăm lai bố pây đẩy sơn xuyên.
Mùa cón mì trạng nguyên lận gạ
Pết tía cáy khảm tả pây khăn
Cáy tốc píc liên khăn sau tiếng,
Tha vằn liền xuất hiện phương đông.
Trại khăm lại pây lùng phương rậu,
Mơ mựn tạo hết canh hết cáp
Xíp thoong pí hết giáp vân vi
Xíp thoong bươn hết pì tu thể
Xam xíp vằn chắng kể hết bươn.
Nghĩa là:
Ngày xưa nàng Xuân thị có thai
Mỗi ngày vào sơn lâm phát nương.
Nắng quá cây cỏ khô vàng.
Vì trước có mười hai(1) mắt ngày thượng đế.
Nắng chói xuống hạ thế trần gian.
Nên nàng Xuân thị chết cháy ở giữa nương
Vua Nghiêu nghĩ trong lòng cay đắng,
Mới làm cung bắn thẳng lên trời,
Mắt ngày rơi xuống nước chìm nghỉm.
Thiên hạ mọi nơi đều tối hết.
Thiên hạ người lo khốn lo nhiều.
Khỉ, vượn bị kẹp cổ chết ở cành cây,
Vì tối quá không sơn xuyên đi được.
Mới có ông trạng nguyên bàn việc:
Vịt cõng gà ra bể mà kêu.
Gà vỗ cánh gáy lên ba tiếng:
Mắt ngày liền xuất hiện phương đông.
Chiều hôm lại lặn về phương tây.
Từ ngày ấy mới thành canh thành cáp,
Mười hai năm là một giáp vân vi
Mười hai tháng mới là một năm,
Ba mươi ngày mới kể là một tháng.
(Lan Khai - phiên âm và dịch)
Là một bài ca nhuốm màu thần thoại - truyền thuyết về thời gian phản
ánh thế giới quan về vũ trụ nhân sinh của người xưa. Một câu hỏi đặt ra
vì sao vũ trụ lại có ngày, đêm, năm, tháng? Họ đã dựa vào bộ óc giàu
tưởng tượng của mình để lý giải cái trừu tượng, bí mật của tự nhiên
bằng thi ca huyền thoại. Câu chuyện trong bài ca thuật lại: Xưa Thượng
Đế có 12 con mắt (mặt trời) cùng một lúc soi xuống thế gian, sức nóng
của 12 mặt trời đốt cháy mọi sự sống trên mặt đất, nàng Xuân Thị đang
mang thai đi làm rẫy cũng bị thiêu chết. Vua Nghiêu uất hận liền dùng
cung bắn rụng hết mặt trời, mặt đất còn lại toàn đêm tối, ai nấy đều lo
lắng, loài vật chết thảm, nhưng nhờ có vị trạng nguyên lập kế tìm
nguồn sáng, một mặt trời (tha vằn) đã trở lại. Từ đó mặt đất mới có sự
sống bình yên, có ngày và đêm, thời gian cũng được phân định rõ: Con số
12 năm là 1 giáp, 12 tháng là 1 năm, 30 ngày là 1 tháng. Bài ca đề cao
tinh thần quả cảm và trí tuệ của con người tạo nên một bức tranh sống
động có màu sắc lịch sử, triết học về sự sống theo cảm quan thẩm mĩ
giàu chất hiện thực và lãng mạn của đồng bào.
Là một bài ca dân gian đi cùng năm tháng, từng sống trong các bản làng
đất Việt vùng núi phía Bắc, bên chiếc nôi đưa, bên bếp lửa hồng, trong
lời ca con trẻ, trong lời kể người già về số đếm thời gian. Tất cả cho
hay, những giá trị còn lại trên đời này kể cả thời gian đều là kết quả
của cuộc đấu tranh với thiên tai, là công cuộc kiếm tìm hạnh phúc. Để
tạo nên một bức tranh nghệ thuật sinh động, người xưa đã sáng tạo ra
các nhân vật vừa hư vừa thực: Thượng Đế lực lượng tối cao trong vũ trụ,
nàng Xuân Thị người lao động, Vua Nghiêu người cai quản thế gian, ông
Trạng Nguyên hiện thân của trí tuệ giúp vua trị nước an dân, Bào thai
là cái mầm của sự sống; gà vịt - những con vật hữu ích gần gũi là những
kẻ bề tôi thi hành nhiệm vụ của con người. Thượng Đế mang sức mạnh
quyền uy, ông vua, bề tôi, dân và loài vật là hiện thân sự sống trong
thế giới trần gian. Mặt trời và biển cả là biểu tượng của sức mạnh
thiên nhiên trong tay Thượng Đế, đó là quan niệm cổ xưa của đồng bào.
Ý nghĩa nhân văn của bài ca còn ở chỗ: Chỉ có trí tuệ và tinh thần hữu
ái mới cứu được con người và vạn vật trên thế gian này, cả loài vật
biết gắn bó thương yêu nhau sẽ tìm ra hạnh phúc. Các hình tượng nghệ
thuật cổ xưa đem lại tính hiện thực và huyền thoại cho câu chuyện trong
một bài ca hàm súc. Cùng với đó là những lời thơ hồn nhiên vừa mang
tính tự sự vừa đậm chất trữ tình, gợi lên những ấn tượng sống động,
giàu âm hưởng và sắc điệu lời ca dân gian Tày.
Theo TQĐT
|
|
Giá trị của di sản Nghi lễ Then và Lễ hội Lồng tông |
Thứ 3, ngày 19 tháng 2 năm 2013 - 15:22
|
Ngày
27-12-2012, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ra Quyết định
số 5079/QĐ-BVHTTDL công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia,
trong đó có Nghi lễ Then và Lễ hội Lồng tông của dân tộc Tày tỉnh Tuyên
Quang. Ngày 29-1-2013 UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 03/KH-UBND về
tổ chức Lễ hội Lồng tông và đón nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Nghi lễ Then và Lễ hội Lồng tông dân tộc Tày tỉnh Tuyên Quang vào ngày
17-2 tại huyện Chiêm Hóa và 21-2 tại huyện Lâm Bình. |
Múa hát then trong Lễ hội Lồng tông Chiêm Hóa 2013. Ảnh:ThuTrang
|
Đôi nét về Nghi lễ Then
Then có nguồn gốc từ chữ “Tiên” có nơi gọi là “Sliên” là người của
Trời. Then là một loại hình trình diễn dân ca tổng hợp bao gồm những
khúc hát, điệu múa thuộc thể loại dân ca nghi lễ được sử dụng trong các
lễ cúng chữa bệnh, giải hạn, cầu mùa, lễ cốm, lễ cấp sắc... do những
người làm lễ Then thực hiện. Đàn ông hay đàn bà đều có thể làm thầy
Then. Người được làm thầy Then đều phải tuân thủ những quy định bắt
buộc. Như trong dòng họ đã có người làm thầy Then truyền nghề hay theo
thầy Then học nghề và được công nhận qua một lễ cúng. Cho đến nay chưa
có một tài liệu nghiên cứu nào khẳng định thời điểm ra đời của Then.
Mọi người chỉ nhận biết Then là những câu văn thuộc dòng văn hóa dân
gian hoặc do những cá nhân am hiểu sáng tác. Như vậy, Then bắt nguồn từ
chính cuộc sống lao động và có vai trò to lớn trong đời sống tinh
thần, đời sống tâm linh của người Tày.
Theo nghệ nhân then Nguyễn Mạnh Thẩm, ở thôn Nà Đồn, xã Thanh Tương (Nà
Hang), hiện nay trên địa bàn tỉnh tồn tại hai dòng Then. Then cổ phần
lớn là các bài cúng và Then mới là các bài hát ca ngợi cuộc sống được
sáng tác dựa trên chất liệu Then cổ. Để thực hiện Nghi lễ Then, chủ lễ
cần mũ, quần áo, khăn, quạt, đai thắt, đàn tính, chùm sóc, quả sóc và
đồ cúng gồm lệnh bài, dây bùa hộ mệnh, mõ cá, thanh âm dương. Theo hình
thức thể hiện, Then chia thành Then tính và Then quạt. Then quạt cùng
nhóm với pụt, ra đời sớm hơn Then Tính, khi hát thầy Then sử dụng quạt.
Then quạt được sử dụng trong các nghi lễ cầu yên như: Cúng mụ, cúng
giải hạn, cúng chữa bệnh, cúng “đầu ma”, cúng cấp sắc. Then Tính ra đời
và phát triển trên cơ sở Then quạt, có nhạc đệm là đàn Tính và chùm
sóc, quả nhạc. Khi thể hiện vừa đàn vừa hát, nhịp đi lúc nhanh lúc
chậm. Nếu thời gian cùng thể hiện một khúc hát thì Then tính nhanh gấp
ba lần Then quạt. Then tính rút gọn hơn về số câu và nhịp phách. Ở Then
quạt âm điệu chủ yếu là “ừ ừ”, còn Then tính là “ới la ới là”, nghĩa
là khát vọng giao đãi của con người với trời đất, thiên nhiên, vạn vật.
Để làm Nghi lễ Then không thể thiếu cây đàn tính.
Đàn tính gồm ba phần, cần đàn, bầu đàn và dây đàn. Cần đàn tốt nhất là
làm bằng gỗ cây thừng mực, vừa dai, vừa nhẹ. Bầu đàn được làm bằng quả
bầu nậm để khô, có mặt bầu đàn dán gỗ vông. Dây đàn được làm bằng sợi
tơ tằm trải sáp ong. Đàn tính đánh theo cách đánh của bộ gõ, nghe như
tiếng trống và tiếng gõ phách cùng cộng hưởng. Đàn tính thường gồm 3
dây nhưng ở Tuyên Quang chủ yếu vẫn là loại 2 dây. Loại 2 dây “rề, sòn”
dùng cho hát tàng bốc (đường bộ), đây là loại Then dùng cho người đi
đường, phản ánh cuộc sống con người, dùng trong các lễ hội. Loại 2 dây
“đồ, son” dùng cho hát tàng nặm (đường thủy), chủ yếu thầy Then dùng
trong lễ dâng sớ, xin quẻ, nộp lễ vật...
Bà then Lâm Thị Cháy, ở thôn Nà Bó, xã Phúc Thịnh (Chiêm Hóa) cho biết,
người ta chia nội dung các bài Then thành hai nhóm là Then yên kỳ và
Then lễ hội. Nhóm Then yên kỳ bao gồm các nội dung Then cầu yên, Then
cầu chúc, Then chữa bệnh. Then yên kỳ chiếm tỷ lệ nhiều hơn trong
đường Then. Nhóm Then lễ hội gồm Then cầu mùa, Then vào nhà mới, Then
cấp sắc, Then trong lễ cốm. Then còn được thể hiện trong các cung Then,
khúc Then trong Nghi lễ Then.
Hát Then tại Lễ hội Lồng tông Chiêm Hóa. Ảnh: P.V
|
Nghi lễ Then mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện ước vọng của con
người về cuộc sống bình an. Ngày nay hát Then còn được sử dụng nhiều
trong các buổi liên hoan văn nghệ quần chúng, là kho tàng quý giá về di
sản văn hóa cổ truyền của dân tộc và nguồn tư liệu quan trọng giúp cho
việc nghiên cứu truyền thống lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán của
người Tày. Then có ý nghĩa trong quá trình bảo tồn văn hóa dân gian dân
tộc Tày mà các nghệ nhân Then là trung tâm bảo tồn nghệ thuật Then.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh số lượng người am hiểu về Nghi lễ Then,
nhất là Then cổ không còn nhiều hoặc đang “đứng bóng”. Vì vậy nguy cơ
thất truyền, mai một Nghi lễ Then của đồng bào Tày là rất lớn. Trước
vấn đề đó, trong những năm gần đây tỉnh đã chỉ đạo Sở Văn hóa, Thể thao
và Du lịch tiến hành kiểm kê, lập danh mục di sản văn hóa phi vật thể
trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó có Nghi lễ Then để lập hồ sơ có biện
pháp bảo vệ khẩn cấp. Nhiều câu lạc bộ học Then, hát Then ở các xã,
phường, thị trấn và các trường học ra đời. Đồng thời, tôn vinh kịp thời
các nghệ nhân Then, tổ chức nhiều chương trình liên hoan văn nghệ có
nội dung hát Then, xây dựng làng văn hóa du lịch gắn với bảo tồn Nghi
lễ Then tại các địa phương.
Lễ hội Lồng tông
Theo đồng bào Tày tỉnh Tuyên Quang, Lồng tông có nghĩa là lễ hội xuống
đồng đầu năm mới. Đây là lễ hội dân gian cầu mùa lớn nhất trong năm của
người Tày. Lễ hội thường được tổ chức vào ngày mồng 3 đến 15 tháng
Giêng hàng năm. Lễ hội tổ chức theo quy mô cấp thôn, xã, huyện. Ở tỉnh
ta ở cấp độ huyện có Lễ hội Lồng tông huyện Chiêm Hóa tổ chức vào ngày 8
tháng Giêng và Lễ hội Lồng tông huyện Lâm Bình tổ chức vào ngày 12
tháng Giêng hàng năm. Lễ hội là dịp để cư dân địa phương tạ ơn Thần
Nông, Thành Hoàng làng, cầu mong mùa màng tươi tốt bội thu, muôn vật
nảy nở khỏe mạnh, muôn người bình an, là nơi tụ họp vui xuân của mọi
người.
Các thầy Pú Mo làm lễ trong Lễ hội Lồng tông
huyện Chiêm Hóa.
|
Ông Quan Văn Nàm, ở thôn Bản Câm, xã Phúc Sơn (Chiêm
Hóa) cho biết, ở các địa phương thường tổ chức Lễ hội Lồng tông lệch
ngày nhau để người dân các nơi cùng góp vui. Các nghi thức tế lễ và trò
chơi dân gian của Lễ hội Lồng tông được tổ chức tại các bãi đất phẳng,
rộng, thoáng đoãng, đẹp và cả ở các đình, đền, miếu thờ các Thiên
Thần, Địa Thần, Thủy Thần, Nhân Thần của các địa phương. Hàng năm để tổ
chức Lễ hội Lồng tông, dân làng các địa phương chuẩn bị chu đáo trước
đó gần một tháng. Ban tổ chức được thành lập với thành phần là các cụ
cao niên có uy tín, đứng đầu là Pú Mo (chủ lễ) chủ trì. Lễ hội Lồng
tông gồm hai phần, phần lễ diễn ra trước và phần hội diễn ra ngay sau
đó. Chủ lễ (Pú Mo) sắp mâm (gồm mâm lễ mặn: Gà trống thiến, chân giò
lợn, xôi ngũ sắc, rượu; mâm lễ chay gồm: Bánh chưng, bánh dày, bánh
nẳng, bánh khảo, hoa quả, trầu, cau, tiền, vàng, giấy và mâm 100 quả
còn) và thắp hương trên các kệ tồng, làm lễ cúng tế với các bước: Giải
uế khai quang, tiễn tước, tiễn tửu, đọc văn tế, hóa dâng vàng mã, tiễn
thánh, rước lộc, tán lộc và hạ điền. Nghi lễ hạ điền, Pú Mo hoặc người
uy tín được ủy quyền dùng trâu tuyển cày một vài đường cày ở thửa
ruộng gần đó với ý nghĩa mở đầu cho một vụ cày cấy mới trong năm thu
được nhiều thắng lợi.
Tiếp theo phần lễ là phần hội. Trong phần hội có các trò chơi dân gian
như múa lân, tung còn, kéo co, đẩy gậy, đi cà kheo, bắn nỏ, đánh pam,
đánh yến, đánh đu, đi cầu lút, cầu leo, đấu vật, chọi gà, hát đối đáp
Sli, Lượn, Then... Tiêu biểu và quan trọng nhất của phần hội chính là
tung còn với những cây còn cao làm bằng những cây tre bó gộp lại chôn ở
giữa sân hội. Phần thi này có thưởng cho ai may mắn tung trúng thủng
vòng còn, khi nào thủng vòng còn cũng là lúc về mặt nghi Lễ Lồng tông
kết thúc. Cuộc thi tung còn được nhiều người hào hứng tham gia, nhất là
thanh niên, gắn với quan niệm văn hóa phồn thực (âm-dương), gắn với
tình yêu đôi lứa, sinh sôi nẩy nở. Khi tan hội ra về, ai nấy cũng muốn
mang một quả còn về nhà treo lấy may quanh năm.
Lễ hội Lồng tông thể hiện nhu cầu về cuộc sống tinh thần, tâm linh, ước
vọng của đồng bào Tày về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Ông Ma Văn
Chương, ở thôn Đình, xã Hùng Mỹ (Chiêm Hóa) khẳng định, lễ hội phản ánh
đời sống, bản sắc văn hóa độc đáo của người Tày qua nghi lễ, trò chơi,
ẩm thực, múa hát... Lễ hội Lồng tông có giá trị duy trì thuần phong mỹ
tục, khích lệ quá trình lao động sản xuất của người dân, giá trị kết
cấu cộng đồng, giá trị thẩm mỹ, giá trị biểu tượng. Lễ hội cũng là dịp
giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể thao, trò chơi dân gian. Lễ hội Lồng
tông có lịch sử lâu đời với sức sống bền bỉ theo thời gian, không thể
thiếu với đồng bào Tày nên ít có nguy cơ mai một. Những năm gần đây,
trước nguyện vọng của nhân dân và phục vụ phát triển du lịch, tỉnh ta
đã khôi phục lại đầy đủ lễ hội Lồng tông cấp huyện ở Chiêm Hóa, Nà
Hang, Lâm Bình ngày càng quy mô hơn.
Theo đồng chí Nguyễn Việt Thanh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du
lịch, việc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa Nghi lễ Then và Lễ hội
Lồng tông của dân tộc Tày tỉnh Tuyên Quang vào danh mục Di sản văn hóa
phi vật thể quốc gia có ý nghĩa quan trọng, khẳng định giá trị truyền
thống của loại hình di sản văn hóa đặc sắc, độc đáo này. Đồng thời
khẳng định trách nhiệm của tỉnh trong việc thực hiện nghĩa vụ quản lý
Nhà nước đối với Di sản văn hóa phi vật thể Nghi lễ Then và Lễ hội Lồng
Tông.
Thành phố Tuyên Quang - miền đất của những lễ hội |
Thứ 5, ngày 7 tháng 2 năm 2013 - 15:20
|
Thành
phố Tuyên Quang là nơi quy tụ đầy đủ các yếu tố truyền thống văn hóa,
lịch sử với những địa điểm du lịch tâm linh, du lịch lễ hội đặc sắc, hấp
dẫn. Hiện nay, thành phố trẻ đang dần trở thành điểm du lịch níu bước
chân của du khách gần xa với những lễ hội tâm linh và lễ hội văn hoá
mang nét riêng của thành phố bên dòng Lô lịch sử… |
Miền đất của những lễ hội tâm linh
Mỗi dịp xuân về, thành phố Tuyên Quang đã trở thành điểm đến đầu tiên
trong hành trình của du khách trong và ngoài tỉnh trong những chuyến du
lịch tâm linh đầu năm mới. Với những đền, chùa nổi tiếng linh thiêng
như: Đền Hạ, đền Thượng, đền Cấm, đền Mẫu Ỷ La, đền Cảnh Xanh, chùa
Hang, chùa An Vinh…
Rước mẫu từ đền Ỷ La về đền Hạ. Ảnh: TQĐT
Nằm ngay sát bên hữu ngạn sông Lô, đền Hạ là điểm dừng chân của hầu hết
du khác khi đến với thành phố Tuyên Quang. Đền được dựng lên để thờ đức
thánh Mẫu Thượng thiên vào năm 1738 thời Lê Cảnh Hưng dựa theo thuyết
phong thuỷ “tiền minh đường, hữu hậu chẩm”. Cửa đền quay theo hướng
chính Đông, nơi có dòng Lô giang uốn khúc trông ra soi Tình Húc, xa xa
phía trước cửa đền có dãy núi Dùm làm bức bình phong bao bọc. Dòng Lô
giang ngay trước mặt được xem là nơi tụ thuỷ, tụ phúc, thể hiện ước vọng
truyền đời của cư dân nông nghiệp lúa nước mong được cuộc sống ấm no,
mùa màng bội thu. Mỗi dịp xuân về, cứ vào khoảng thời gian từ ngày 11/2
đến ngày 16/2(Âm lịch), lễ hội đền Hạ lại được tổ chức với nhiều hoạt
động văn hoá đặc sắc. Tiêu biểu nhất và thu hút sự quan tâm của du khách
là hai lễ rước Mẫu: Lễ rước từ đền Mẫu Ỷ La về đền Hạ và từ đền Thượng
về đền Hạ với nghi thức tâm linh được thực hiện hết sức trang nghiêm,
thành kính của người dân.
Đi một vòng xung quanh thành phố, hầu như tất cả các xã, phường đều có
những ngôi đền, chùa cổ kính với những kiến trúc nghệ thuật độc đáo. Đây
vừa là điểm tham quan, vừa là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh của người
dân như: chùa Linh Thông, đền Mẫu ở phường Ỷ La; đền Pha Lô, Lâm Sơn
linh tự ở phường Nông Tiến; chùa An Vinh ở phường Hưng Thành; phường
Minh Xuân có đền Mỏ Than, đền Cảnh Xanh;….
Thành phố Tuyên Quang hiện nay có tổng số 59 di tích lịch sử, văn hóa có
2 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 28 di tích được xếp hạng cấp
tỉnh. Mỗi di tích văn hóa đều gắn liền với đời sống tinh thần của người
dân thông qua các hoạt động tâm linh, tín ngưỡng và các lễ hội. Chính vì
vậy, mỗi dịp xuân về, du khách hập phương lại chọn Tuyên Quang làm điểm
đến lý tưởng cho chuyến du xuân đầu năm của mình.
Sôi động với những lễ hội văn hoá
Lễ hội đua thuyền trên sông Lô.
Những
năm gần đây, cứ đến mùng 4 Tết, nhân dân thành phố Tuyên Quang và cả
những du khách tới thăm quan đều háo hức chờ đợi sự đua tài của các đội
thuyền đến từ các xã, phường trên địa bàn thành phố. Đây là lễ hội
truyền thống vừa được thành phố khôi phục và được tổ chức trong vài năm
gần đây. Hội đua thuyền sông Lô được tổ chức hằng năm vào đúng dịp tết
cổ truyền của dân tộc đã góp phần phát huy bản sắc văn hóa truyền thống
của vùng đất cách mạng, khơi dậy tinh thần thượng võ, bản lĩnh sông
nước, tăng cường rèn luyện thể chất và lòng dũng cảm, thể hiện tình cảm
hướng về cội nguồn của dân tộc.
Lễ hội Trung thu Thành phố Tuyên Quang lại để lại ấn tượng đẹp trong
lòng du khách gần xa về hình ảnh ấn tượng, lạ mắt của những mô hình
trong “Đêm hội đường phố”. Đây như là một “đặc sản” riêng, với quy mô
hoành tráng, có một không hai của thành phố. Hoạt động làm những mô hình
con giống khổng lồ để rước đèn trong đêm Trung thu chính thức xuất hiện
khoảng gần chục năm trước ở vài tổ nhân dân sau đó lan dần ra ở hầu
khắp các cộng đồng dân cư. Từ năm 2008, thành phố mới chính thức đưa
hoạt động này thành lễ hội của thành phố. Từ đó đến nay, mỗi năm lễ hội
càng lớn và hoành tráng hơn, quy mô càng được mở rộng hơn và thu hút
được du khách thập phương đến tham gia. Sự độc đáo của lễ hội thu hút du
khách chính là những mô hình con giống khổng lồ do những bàn tay, khối
óc của nhân dân lao động của các xã, phường trên địa bàn thành phố làm
ra. Đặc biệt trong dịp Trung thu năm 2012 vừa qua, Hội đồng xác lập kỷ
lục gia Việt Nam trao Bằng công nhận và Cúp ghi nhận kỷ lục Guiness Việt
Nam cho “Đêm hội thành Tuyên”.
Mùa xuân đang về trên khắp tuyến phố, con đường của thành phố Tuyên
Quang - miền đất của những lễ hội tâm linh và văn hoá truyền thống đang
ngay một chuyển mình, mời gọi tất cả những du khách gần xa đến thăm quan
và thưởng ngoạn.
Tôn Thu
Di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào |
Thứ 5, ngày 27 tháng 12 năm 2012 - 10:27
|
Khu
di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào đã trở thành địa danh thân thiết và
thiêng liêng, nơi khắc ghi những mốc son chói lọi, những trang sử hào
hùng của Đảng và cách mạng Việt Nam; nơi ghi dấu những hình ảnh thân
thương, những kỷ niệm sâu đậm về Bác Hồ - vị cha già kính yêu của dân
tộc. Đó chính là những di sản văn hoá vô cùng quý giá mà Đảng bộ, nhân
dân các dân tộc Tuyên Quang có may mắn vinh dự thay mặt nhân dân cả nước
giữ gìn và phát huy giá trị cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
|
Nhân dân các dân tộc Tuyên Quang trong ngày hội ở Quảng trường Tân Trào, ảnh Diêu Sơn
Khu di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang,
nằm trên địa bàn 11 xã: Tân Trào, Minh Thanh, Trung Yên, Bình Yên,
Lương Thiện (huyện Sơn Dương); Kim Quan, Trung Sơn, Hùng Lợi, Trung
Minh, Đạo Viện, Công Đa, (huyện Yên Sơn).
Phía
Bắc giáp xã Linh Phú (huyện Chiêm Hoá) và hai xã Nghĩa Tá, Bình Trung
(huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn); phía Đông giáp các xã thuộc hai huyện
Định Hoá, Đại Từ (tỉnh Thái Nguyên); phía Nam giáp hai xã Tú Thịnh, Hợp
Thành (huyện Sơn Dương); phía Tây giáp các xã Tân Tiến, Kiến Thiết, Phú
Thịnh, Tiến Bộ, Thái Bình (huyện Yên Sơn).
Gồm 138 di tích, cụm di tích, trong đó:
18 di tích, cụm di tích đã được Bộ văn hoá, Thể thao và Du lịch cấp bằng công nhận di tích lịch sử quốc gia.
30 di tích, cụm di tích được UBND tỉnh Tuyên Quang cấp bằng công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh.
21 di tích, cụm di tích đang đề nghị xếp hạng cấp quốc gia.
69 di tích, cụm di tích đã cắm bia sự kiện, hoàn chỉnh hồ sơ khoa học, bản đồ đạc họa, khoanh vùng bảo vệ.
Trở lại lịch sử, kể từ
khi có Đảng, nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang một lòng một dạ sắt
son theo Đảng, xây dựng phong trào, phát triển, củng cố cơ sở cách mạng
vững chắc. Khi tình hình thế giới biến động mau lẹ, thời cơ có lợi cho
cách mạng Việt Nam, Bác Hồ chỉ thị cho đồng chí Võ Nguyên Giáp cần chọn
ngay một địa điểm có dân tốt, có cơ sở cách mạng tốt, địa hình tốt, “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ”,
có thể thuận tiện làm một trung tâm liên lạc với miền xuôi, miền ngược
và nước ngoài, làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước. Tân Trào, Tuyên
Quang mảnh đất hội tụ đầy đủ các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hoà” đã được chọn làm nơi đặt “đại bản doanh” của Trung ương Đảng, Bác Hồ để chuẩn bị các điều kiện tiến tới tổng khởi nghĩa.
Sau
cuộc hành trình dài (từ Pác Bó - Cao Bằng) Bác Hồ đến xã Tân Trào,
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 21/5/1945. Tại đây, Người đã
chỉ đạo mở trường đào tạo cán bộ, đặc biệt là cán bộ quân sự; thành lập
Khu căn cứ cách mạng, lấy tên là Khu giải phóng gồm 6 tỉnh: Cao Bằng -
Bắc Kạn - Lạng Sơn - Thái Nguyên - Tuyên Quang - Hà Giang và quyết định
Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang là Thủ đô Khu giải phóng.
Tại
căn lán Nà Nưa đơn sơ, do cuộc sống hằng ngày hết sức gian khổ, thiếu
thốn, cuối tháng 7/1945 Bác Hồ bị ốm nặng. Trong cơn sốt mê sảng nhưng
với nghị lực phi thường, quyết tâm sắt đá giành độc lập, tự do cho dân
tộc, Người đã chỉ thị: "Lúc
này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả
dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập". Trước tình thế cách mạng hết sức khẩn trương, Bác Hồ đã chỉ đạo triệu
tập Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng từ ngày 13 đến ngày 15/8/1945.
Dự hội nghị có hơn 30 đại biểu trong toàn quốc, trong đó có các đồng
chí: Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn
Lương Bằng, Nguyễn Chí Thanh, Trần Huy Liệu… Hội nghị quyết định thành
lập Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc; phát động toàn dân tổng khởi nghĩa
giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và tay sai.
Trong
hai ngày 16 và 17/8/1945, Quốc dân Đại hội được tổ chức tại đình Tân
Trào, đến dự có hơn 60 đại biểu đại diện cho ba miền Bắc - Trung - Nam,
các ngành, các giới, các đảng phái chính trị và một số kiều bào ở nước
ngoài. Quốc dân Đại hội đã nhất trí tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa
của Đảng cộng sản Đông Dương, thông qua 10 chính sách lớn của Mặt trận
Việt Minh và bầu ra Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam (tức Chính phủ
lâm thời) do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, đồng chí Trần Huy Liệu
làm Phó Chủ tịch. Đại hội đã quy định Quốc hiệu, Quốc kỳ, Quốc ca. Quốc
dân Đại hội Tân Trào - tiền thân của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa, "Hội nghị Diên Hồng lần thứ hai trong lịch sử nước ta",
là mốc son chói lọi mãi được ghi vào lịch sử vẻ vang của dân tộc Việt
Nam. Chiều ngày 16/8/1945, dưới bóng đa Tân Trào, Quân giải phóng cử
hành lễ xuất quân; đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Ủy ban khởi nghĩa
đọc bản Quân lệnh số I và hạ lệnh xuất quân. Đoàn quân giải phóng, áo
vải chân đất, rầm rập tiến về giải phóng Thái Nguyên mở đường giải phóng thủ đô Hà Nội.
Từ Tân Trào - Sơn Dương, Tuyên Quang lệnh Tổng khởi nghĩa được truyền đi: "Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta". Đáp
lời kêu gọi của Đảng, của Hồ Chủ tịch và Mặt trận Việt Minh, nhân dân
cả nước nhất tề đứng lên giành chính quyền, làm nên cuộc Cách mạng Tháng
Tám long trời chuyển đất, giành lại độc lập tự do cho dân tộc, lập nên
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở
Đông Nam Châu Á, mở ra một kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - kỷ
nguyên độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Đất
nước ta giành độc lập chưa được bao lâu, thực dân Pháp bội ước đem quân
trở lại cướp nước ta, nhân dân ta lại bước vào một cuộc chiến đấu mới,
đầy khó khăn, thử thách với tinh thần “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Tháng 11/1946, khi thực dân Pháp khiêu khích ở Hải Phòng và Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp đồng chí Võ Nguyên Giáp hỏi: “Nếu địch mở rộng chiến tranh trên miền Bắc thì Hà Nội giữ được bao lâu ?”; đồng chí Võ Nguyên Giáp thưa: “Giữ được một tháng, các thành phố khác ít khó khăn hơn, vùng nông thôn nhất định ta giữ được”. Suy nghĩ trong giây lát, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định: “Ta lại trở về Tân Trào”. Một lần nữa, lịch sử lại giao phó cho Tuyên Quang sứ mệnh là Thủ đô kháng chiến, căn
cứ vững chắc, chở che cho Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Chủ
tịch Hồ Chí Minh, Mặt trận và các bộ, ban, ngành, cơ quan Trung ương
trong những năm tháng cam go của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Dưới
những tán rừng đại ngàn, suốt một dải từ Sơn Dương đến Yên Sơn, tỉnh
Tuyên Quang, có 65 bộ, ban, ngành, cơ quan Trung ương (trong đó có 13/14
bộ và cơ quan ngang bộ) đặt trụ sở làm việc, lãnh đạo toàn dân kháng
chiến, như: Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Tổng Bí thư, Ban Tổ
chức Trung ương, Ban Tuyên huấn Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương,
Ban Dân vận Trung ương, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Chủ tịch phủ -
Thủ tướng phủ; Ban Thường trực Quốc hội và Mặt trận Liên Việt; các Bộ:
Nội vụ, Ngoại giao, Tài chính, Kinh tế, Canh nông, Tư pháp, Lao động,
Giao thông công chính, Thương binh - cựu binh, Giáo dục, Y tế; Ngân hàng
Quốc gia Việt Nam; Kho bạc Nhà nước, Nha Công an, Nha Thông tin; Việt
Nam thông tấn xã, Ban Thanh tra Chính phủ, Ban Nông vận, Tổng bộ Việt
Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Trung ương Đoàn thanh niên, Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam, Ban Sử - Địa - Văn, Nhà xuất bản Sự thật…
Trong
suốt 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Khu ATK
Tân Trào - với vị thế là trung tâm đầu não của cuộc kháng chiến, nơi
phát nguồn những tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Trung ương Đảng, Chủ
tịch Hồ Chí Minh, đã diễn ra nhiều sự kiện trọng đại của Đảng, của cách
mạng Việt Nam: Hội nghị Trung ương 6 khóa II mở rộng; kỳ họp thứ ba Quốc
hội khóa I - kỳ họp duy nhất của Quốc hội được tổ chức trong thời kỳ
kháng chiến; kỳ họp Bộ Chính trị ra nghị quyết “tiếp tục thấu triệt phương châm đánh chắc, tiến chắc, đề cao quyết tâm, tích cực giành toàn thắng cho chiến dịch Điện Biên Phủ”...
Tuyên
Quang là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo cấp cao của
Đảng, Nhà nước, Mặt trận, các đoàn thể Trung ương ở và làm việc trong
thời gian lâu nhất. Theo Kết luận của Hội thảo khoa học "Nghiên cứu, xác minh tư liệu và giá trị di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh thời kỳ 1945-1954"
do Bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức năm 2012 thì trong 9 năm kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở và làm việc tại
Tuyên Quang trong thời gian gần 6 năm với 16 địa điểm khác nhau, chủ yếu
trong Khu di tích quốc gia đặc biệt Tân Trào. Làng Sảo, xã Hợp Thành,
huyện Sơn Dương là nơi đầu tiên Bác ở và làm việc khi trở lại Tuyên
Quang (từ ngày 2/4/1947 đến ngày 19/5/1947). Địa điểm Người ở lâu nhất
và đến ba lần là lán Hang Bòng, xã Tân Trào, huyện Sơn Dương và địa điểm
cuối cùng Người ở trước khi rời Tuyên Quang về Hà Nội là thôn Khuôn
Điển, xã Kim Quan, huyện Yên Sơn. Tại Tuyên Quang, Người đã cùng Trung
ương Đảng, Chính phủ lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối kháng chiến
trường kỳ, toàn dân, toàn diện, vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Người đã
chủ trì các đại hội, hội nghị quan trọng, quyết đáp những vấn đề thúc
đẩy cuộc kháng chiến. Bác đã chủ tọa các phiên họp Hội đồng Chính phủ
bàn về việc xây dựng, củng cố chính quyền, quân đội; phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội; đẩy mạnh hoạt động ngoại giao, hình thành Mặt trận
đoàn kết của nhân dân ba nước Đông Dương, phá thế bao vây cô lập của kẻ
thù, mở ra mối liên hệ với nước ngoài, tiếp nhận sự giúp đỡ, ủng hộ của
các nước đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta, đồng
thời, nâng cao vị thế của Chính phủ Việt Nam trên trường quốc tế. Người
đã ký các sắc lệnh quan trọng như thành lập Tòa án binh; quy định tổ
chức của Bộ Tổng chỉ huy, Bộ Tổng tham mưu, Cục Chính trị, Văn phòng Bộ
Tổng chỉ huy quân đội, thành lập Quốc gia ngân hàng Việt Nam... Người đã
theo dõi sát sao tình hình chiến sự, chỉ đạo quân dân ta đập tan cuộc
tấn công của thực dân Pháp lên Việt Bắc. Từ Khấu
Lấu, Tân Trào, Bác Hồ đi thăm và thiết lập quan hệ ngoại giao với hai
nước Trung Quốc, Liên Xô và đi chỉ đạo chiến dịch biên giới. Trong thời
gian này, Bác đã tiếp và làm việc với nhiều đoàn khách quốc tế như: Đoàn
cán bộ cách mạng Lào, Căm Pu Chia, đoàn cố vấn Trung Quốc, đại diện
Đảng Cộng sản Pháp, tiếp nhà báo
nổi tiếng của Úc là Bớc Sét, nhà báo kiêm đạo diễn điện ảnh Liên Xô Các
Men. Đầu tháng 4/1954, tại Kim Quan, Yên Sơn, Tuyên Quang, Bác Hồ chỉ
đạo đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu đoàn ngoại giao của ta đi dự Hội nghị
Giơnevơ, cùng đi có các đồng chí Phan Anh, Hà Văn Lâu, Nguyễn Thành Lê,
Nguyễn Thiệu Lâu... Người luôn quan tâm xây dựng chính sách đại đoàn
kết dân tộc, chăm lo công tác xây dựng Đảng, giáo dục tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong thời gian
sống và làm việc ở Tuyên Quang, Người đã hoàn thành các tác phẩm nổi tiếng như "Cần, Kiệm, Liêm, Chính”, "Dân vận", “Chớ kiêu ngạo, phải khiêm tốn” và làm nhiều bài thơ giàu cảm xúc để động viên nhân dân đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước. Những
tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với đường lối kháng
chiến đúng đắn được xây dựng toàn diện trên mọi lĩnh vực của Đảng, đã
huy động được sức mạnh tổng hợp của nhân dân đưa cuộc kháng chiến, kiến
quốc đi đến thắng lợi.
Với sự hiện hữu của gần 500 di tích lịch sử, Tuyên Quang mãi mãi là “bảo tàng sống”,
là kho tư liệu vô giá của lịch sử Đảng và lịch sử cách mạng Việt Nam,
là niềm tự hào của nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang cũng như đồng
bào cả nước. Đặc biệt, Khu di tích lịch sử Tân Trào “nằm trong hệ thống di tích lịch sử cách mạng quan trọng bậc nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam trong thế kỷ 20”
luôn chứa đựng những dấu ấn sống động, sục sôi, hào hùng của Cách mạng
Tháng Tám - Cuộc giải phóng vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Tân
Trào - mảnh đất địa linh, “Quê hương Cách mạng dựng nên Cộng hòa”,
nơi hội tụ tinh hoa trí tuệ của dân tộc, luôn là điểm tựa tinh thần cho
đồng bào cả nước trong tiến trình thực hiện các nhiệm vụ chiến lược của
cách mạng Việt Nam. Lán Nà Nưa, đình Tân Trào, cây đa Tân Trào, lán
Hang Bòng, Khu Lập Binh - Bình Yên, Khu Khuôn Điển - Kim Quan, Khu Chi
Liền - Trung Yên... đã trở thành điểm hẹn về nguồn giáo dục truyền thống
của nhân dân mọi miền đất nước và là địa chỉ thăm quan, nghiên cứu hấp
dẫn của bạn bè quốc tế.
Đánh
giá rõ vị thế, tầm vóc của Khu di tích lịch sử Tân Trào, đồng thời ghi
nhận những đóng góp to lớn của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh
Tuyên Quang trong sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước đã quyết định
xếp hạng Khu di tích lịch sử Tân Trào là di tích quốc gia đặc biệt. Sự
kiện này thêm một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng, giá trị to lớn
của Khu di tích Tân Trào; là niềm vinh dự, đồng thời là trách nhiệm của
Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Tuyên Quang trong việc gìn giữ, bảo vệ,
phát huy giá trị di tích phục vụ công tác giáo dục truyền thống lịch sử
cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
T.T
Nỗ lực xây dựng các sản phẩm du lịch có thương hiệu |
|
Theo
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, qua 6 năm thực hiện Quy hoạch du lịch,
các cấp, các ngành và cộng đồng dân cư trên địa bàn tỉnh đã nhận thức
rõ phát triển du lịch là phát triển một ngành kinh tế có lợi thế của
tỉnh. |
Tuy
nhiên, do cơ sở hạ tầng chưa phát triển, công tác xúc tiến quảng bá còn
hạn chế… nên chưa thu hút được nhiều tổ chức, cá nhân có năng lực về
tài chính và uy tín trong kinh doanh đầu tư vào. Các tuyến du lịch đã
được quy hoạch, song thực tế các công ty, chi nhánh lữ hành trên địa bàn
tỉnh hoạt động còn kém hiệu quả, chưa liên kết được với các công ty lữ
hành ngoài tỉnh để thực hiện theo tua, tuyến đã được quy hoạch. Các cơ
chế, chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư phát triển du lịch chưa được
ban hành… Những nguyên nhân đó dẫn đến các sản phẩm du lịch thiếu tính
đa dạng, chưa định hình được những sản phẩm mang thương hiệu.
Các sản vật của huyện Lâm Bình được quảng bá tại Hội chợ Thương mại - Du lịch tỉnh năm 2012.
Mục
tiêu đến năm 2015, tỉnh ta đón trên 1 triệu lượt khách; phấn đấu doanh
thu xã hội từ các hoạt động du lịch đạt gần 1 nghìn tỷ đồng; phát triển
trên 50 khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 1 sao trở lên, trong đó ít nhất có 8
khách sạn đạt tiêu chuẩn 2 sao trở lên; tạo việc làm cho 8.800 lao
động. Để đạt được điều đó, một nhiệm vụ khó khăn và lâu dài đang được
đặt ra đối với các cấp, các ngành chức năng, đặc biệt là ngành Văn hóa,
Thể thao và Du lịch, làm thế nào để người dân, nhất là dân ở trong vùng
di tích phải sống được bằng dịch vụ du lịch.
Tại Hội nghị phát triển du lịch Tuyên Quang và các tỉnh vùng Đông Bắc
vừa qua được tổ chức tại tỉnh, khi đề cập đến vấn đề này, ông Nguyễn Đức
Xuyên, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Du lịch Việt Nam nhận định, sản phẩm
du lịch trước hết là một sản phẩm văn hóa. Hai loại sản phẩm này có mối
quan hệ mật thiết với nhau. Chính vì vậy, Tuyên Quang cần tiếp tục tập
trung phát triển các sản phẩm du lịch lịch sử, văn hóa kết hợp với việc
giáo dục truyền thống yêu nước cho khách nội địa. Cụ thể, quảng bá, xúc
tiến du lịch qua các ấn phẩm báo chí, tạp chí du lịch; sử dụng Internet
để quảng bá các điểm du lịch và các sản phẩm du lịch; sử dụng kỹ thuật
marketing truyền miệng; tổ chức và tham gia các sự kiện du lịch…
Theo nhận xét của nhiều khách du lịch ngoài tỉnh, trong đó có nhận xét
của nhiều cơ quan thông tấn, báo chí, tạp chí du lịch ở Trung ương và
tỉnh bạn, những năm gần đây, Tuyên Quang đã được nhiều du khách nhắc đến
bởi có những lễ hội và hoạt động văn hóa du lịch hấp dẫn như lễ hội
đường phố trong dịp Tết Trung thu, hội chọi trâu, hội Lồng Tông, du lịch
văn hóa tâm linh... Điều đó khẳng định tiềm năng du lịch ở Tuyên Quang
là rất lớn. Tỉnh cần phát huy những ưu thế để níu chân du khách, quảng
bá và tạo dựng thương hiệu du lịch đặc trưng. Song bên cạnh đó, tỉnh cần
nghiên cứu, phát hiện và xây dựng các sản phẩm du lịch đặc sắc. Về lâu
dài cần đặt ra mục tiêu không chỉ thu hút khách du lịch trong nước mà
mạnh dạn hướng tới khách du lịch nước ngoài. Đối với các tua du lịch
trong vùng, phải hướng đến việc du khách có thời gian lưu trú tại tỉnh
lâu ngày.
Ông Nguyễn Việt Thanh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh cho
biết, Sở tiếp tục tham mưu với UBND tỉnh tổ chức Hội nghị quảng bá và
xúc tiến du lịch tại Hà Nội vào đầu năm 2013; làm việc với Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch, mời các chuyên gia, các nhà khoa học, các cán bộ
nguyên là lãnh đạo Đảng, Nhà nước, thành viên Du lịch hoài niệm để cho ý
kiến về kinh nghiệm cũng như kế hoạch phát triển du lịch tiếp theo của
tỉnh. Bên cạnh đó, Sở tiến hành ký hợp đồng với các công ty du lịch
ngoại tỉnh để đưa khách du lịch đến Tuyên Quang, qua đó hình thành các
gói du lịch. Đồng thời tiếp tục hoàn thành quy hoạch tổng thể Khu Di
tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào, lập các dự án đầu tư cho tương xứng với
tầm vóc lịch sử.
Theo TQĐT
Nghi lễ Then và lễ hội Lồng Tồng của dân tộc Tày ở Tuyên Quang là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia |
Thứ 3, ngày 15 tháng 1 năm 2013 - 11:7
|
Ngày
27 tháng 12 năm 2012 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết
định số 5079/QĐ-BVHTTDL về việc Công bố danh mục di sản văn hóa phi vật
thể quốc gia. Theo Quyết định được công bố thì Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch vừa quyết định đưa Nghi lễ Then và lễ hội Lồng Tồng của dân tộc
Tày ở Tuyên Quang vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. |
Danh sách trên được công bố, sau khi xem xét 81 hồ sơ
khoa học di sản văn hóa phi vật thể của 24 tỉnh, thành phố đề nghị đưa
vào Danh mục di sản văn hóa phi vật quốc gia, Hội đồng thẩm định đã
thống nhất đề nghị bộ trưởng Bộ VHTTDL đưa vào Danh mục di sản phi vật
thể quốc gia đợt 1. Cụ thể các loại hình di sản văn hóa phi vật thể được
công nhận bao gồm 07 di sản văn hóa phi vật thể đã được Unesco vinh
danh, 01 di sản VHPVT đang được Unesco xem xét và 25 di sản VHPTV được
lựa chọn trên cơ sở các hồ sơ của các địa phương gửi tới trong năm 2011
và 2012; Nghệ thuật trình diễn dân gian có 11 di sản; Lễ hội truyền
thống có 12 di sản; Loại hình di sản văn hóa phi vật thể tập quán xã hội
và tín ngưỡng có 7 di sản; Loại hình tiếng nói, chữ viết có 01 di sản;
Loại hình nghề thủ công truyền thống có 02 di sản.
Tiết mục Then biểu diễn tại Lễ đón nhận bằng xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào - Tuyên Quang
Nghi lễ Then và lễ hội Lồng Tồng là một loại hình văn hóa đặc sắc, tiêu biểu của đồng bào dân tộc Tày ở Tuyên Quang .
Có từ lâu đời, nghi lễ Then giúp con người định ra
những giá trị đạo đức, thẩm mỹ và một số quy phạm trong lối sống, ứng
xử, phản ánh muôn mặt của cuộc sống. Then thường dùng trong các nghi lễ
như cầu mùa, cầu yên, cấp sắc... Ở Tuyên Quang, hiện có hai dòng Then
tồn tại, Then cổ được một số ít nghệ nhân và những người làm nghề then
lưu giữ, hành nghề, truyền dạy và Then mới là do những người am hiểu
Then, yêu thích Then đặt lời mới theo giai điệu cổ mang nội dung của
cuộc sống hiện đại.
Lễ hội Lồng Tông diễn ra từ mồng 2 tháng Giêng kéo
dài đến đầu tháng Hai âm lịch hàng năm. Ở Tuyên Quang, Lễ hội Lồng Tồng
được tổ chức quy mô, đậm nét nhất chủ yếu ở các xã của huyện Lâm Bình,
Nà Hang và Chiêm Hóa.
Lễ hội Lồng Tồng là lễ hội “xuống đồng” của dân tộc
Tày. Đây là lễ hội gắn với tín ngưỡng thờ thần Nông, thần Thành Hoàng
làng và thần bản địa của đồng bào dân tộc Tày đã có từ lâu đời, với mục
đích tạ ơn thần thánh đã giúp cho mùa màng bội thu, cầu mong thần phù hộ
cho mưa thuận gió hòa, cuộc sống của dân bản ấm no, tươi vui...
Lễ hội Lồng Tồng gồm hai phần, phần lễ diễn ra trong
không khí trang nghiêm, linh thiêng thể hiện sự biết ơn đối với các
thánh thần, đồng thời cầu xin cho dân làng được may mắn, sức khỏe, mùa
màng bội thu. Phần hội với không khí náo nhiệt, vui tươi, có nhiều trò
chơi dân gian đặc sắc như tung còn, múa lân, kéo co, đi cà kheo, hát đối
đáp sli lượn, hát then...
Hiện Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Tuyên Quang
đang phối hợp với Ủy ban Nhân dân các huyện xây dựng chương trình, kế
hoạch để phục dựng và bảo tồn lễ hội Lồng Tồng cũng như nghi lễ Then tại
các địa phương trên địa bàn tỉnh.
Trần Minh
Miền thuốc Tân Thành... |
Thứ 6, ngày 7 tháng 12 năm 2012 - 10:29
|
Xã Tân Thành (Hàm Yên) nằm bên bờ tả sông Lô, có các thôn Thuốc Hạ và
Thuốc Thượng. Xưa kia đây là nơi thuyền bè neo đậu, mua bán các loại
thuốc quý như sa nhân, mộc nhĩ, nấm hương, nhung hươu, mật gấu, huyết
lình, xương hổ, sơn thục, tầm gửi, mật ong... |
Thuốc
Hà và Thuốc Thượng là nơi sinh sống của đồng bào dân tộc Tày, Dao,
người dân quanh năm lao động cần cù, chăm chỉ. Cùng với việc trồng lúa,
trồng ngô bà con còn hành nghề bốc thuốc trị bệnh cứu người. Nơi đây có
nguồn thuốc thiên nhiên quý giá được hình thành từ bao đời nay, thế nên
người bản địa mới đặt tên cho chòm xóm là Thuốc Hạ và Thuốc Thượng và
Bến Thuốc, đây là khu vực buôn bán, trao đổi các loại thuốc quý với
người dân thập phương. Nay, làng xã đã phát triển hơn, có thêm nhiều đơn
vị hành chính, Thuốc Hạ, Thuốc Thượng là khởi nguồn của những thôn 1
Thuốc Hạ, thôn 2 Thuốc Hạ, thôn 3 Thuốc Hạ, thôn 4 Thuốc Hạ, thôn 5
Thuốc Hạ; thôn 1 Thuốc Thượng, thôn 2 Thuốc Thượng, thôn 3 Thuốc Thượng.
Bà Lương Thị Lộc, thôn 1 Thuốc Hạ, xã Tân Thành (Hàm Yên) biết nhiều bài thuốc dân gian quý.
Bà
Triệu Mùi Nái, ở thôn 4 Thuốc Hạ, năm nay đã ngoài 80 tuổi, là bà lang
lâu năm trong làng, bà biết bốc các loại thuốc trị bệnh đau lưng, gãy
xương... đặc biệt có nhiều bài thuốc trị bệnh hiếm muộn, dưỡng thai, lá
thuốc tắm cho phụ nữ sau sinh... Tất cả đều là bài thuốc gia truyền. Bà
cho biết, nguồn thuốc được lấy từ trên rừng. Ngày trước, một trong những
trò chơi của trẻ con trong làng là đố nhau các loại thuốc lá. Nhỏ tuổi
thì “thách” nhau tìm các loại lá thuốc quanh làng rồi gọi tên. Lên 9, 10
tuổi đã theo người lớn đi cắt lá đem về sao bán. Những trò chơi tuổi
thơ đã khắc sâu vào tâm thức và trở thành những vốn kiến thức phong phú.
Tuy nhiên, theo bà, để trở thành người bốc thuốc giỏi thì phải hiểu cặn
kẽ, gốc tích công dụng, cách hái, cách chế biến từng cây thuốc. Bởi có
cây thuốc ban ngày uống thì lành, uống ban đêm thì độc, uống trời mưa
thì tốt, uống trời nắng thì đau. Có cây chỉ phát huy tác dụng khi hái về
đêm...
Ông lang Phàn Văn Hin, ở thôn 5 Thuốc Thượng cho biết, người xưa có tục
làm lễ cây thuốc vào ngày 7 tháng Giêng. Người được thầy thuốc cứu sống,
không trả tiền bạc mà nhận thầy thuốc làm anh em, phải làm lễ cây
thuốc. Người không mắc tội trộm cắp, đánh bạc, đánh người mới được bốc
thuốc. Con dâu, con rể hiếu thảo và bệnh nhân có tâm là được người bốc
thuốc truyền cho cây thuốc quý. Nay nhiều cây thuốc trong rừng ngày càng
khan hiếm nên người dân đều tìm giống về trồng. Thổ nhưỡng, khí hậu mát
mẻ thế nên nhiều cây thuốc sinh trưởng rất nhanh, nhiều nhà xung quanh
vườn tược, bờ ao đâu đâu cũng là cây thuốc. Nhiều thang thuốc khi cần
chẳng phải vào rừng hái nữa.
Những bài thuốc quý của đồng bào Tày, Dao nơi đây vẫn đang được lưu
truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nhiều bài thuốc đã mang lại sự
sống cho con người và đó chính là ân huệ mà thiên nhiên ban tặng.
Theo TQĐT
Nà Hang: Tình đất, tình người |
Thứ 2, ngày 21 tháng 1 năm 2013 - 14:4
|
Thế
là đã qua một năm tôi được phân công phụ trách địa bàn huyện Nà Hang.
Cánh làm báo chúng tôi có được cơ hội đi hết bản này đến bản khác viết
bài, đưa tin về cuộc sống và những đổi thay nơi vùng đất mình đến. Mỗi
chuyến đi để lại trong lòng những cung bậc cảm xúc khác nhau về những
bản làng, những con người nơi mình đã qua. Ngày cuối năm, ngồi ngẫm lại
thấy mình thật hạnh phúc bởi có được những trải nghiệm đầy cảm xúc mà
mảnh đất này đã dành cho. |
Nhớ
lại những ngày đầu lên Nà Hang công tác được các anh, các chị cán bộ
huyện tiếp đón một cách chân tình, cởi mở chả khác gì như là người quen ở
xa mới gặp lại, khiến cái áp lực làm báo không còn trở nên nặng nề như
tôi tưởng. Anh Phạm Ninh Thái, Chủ tịch UBND huyện Nà Hang bảo: “Với
cánh báo chí, anh em mình có gì nói đấy, không tô vẽ, không giấu diếm,
sống với nhau thật cái bụng thế mới thoải mái chú ạ. Có gì thắc mắc chú
cứ trực tiếp trao đổi... Được cơ sở hết sức tạo điều kiện tác nghiệp kể
ra như vậy là quá thuận lợi với anh em làm báo chúng tôi.
Một năm chưa đủ thời gian để tôi đi hết các xã, thôn bản của Nà Hang
nhưng với cũng phần nào cho tôi có được những cảm nhận về vùng đất, con
người nơi đây. Với tôi, mỗi chuyến đi công tác là một lần được trải
nghiệm những điều thú vị trong cuộc sống, lao động, tập quán sinh hoạt
của cộng đồng các dân tộc, những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú nơi mảnh
đất này.
Cầu Đà Vị bắc qua sông Năng trên tuyến Quốc lộ 279
|
Từ
khi được tích nước làm thủy điện, vùng thượng lưu 2 con sông Năng và
sông Gâm trở thành vùng hồ rộng lớn trải dài suốt gần như từ đầu huyện
đến cuối huyện. Trên con đường Quốc lộ 279, đi đến đâu cũng bắt gặp cảnh
non nước hữu tình, trên là rừng núi trùng trùng điệp điệp, dưới là hồ
nước xanh trong. Xa xa, trong lòng hồ những ốc đảo hình thành từ những
quả đồi, mỏm núi bị ngập nước, những cù lao ruộng bậc thang, những cây
rừng như những cánh tay vươn ra soi bóng nước. Cánh anh em báo chí
chúng tôi lần đầu lên Nà Hang không cưỡng lại được cảnh sắc nơi này,
chốc chốc dừng xe đứng ngắm cảnh, chụp ảnh. Còn đi thuyền dọc lòng hồ
thủy điện kéo dài lên tới huyện Bắc Mê của tỉnh Hà Giang, thăm thú các
khe núi, khe suối, hang, hốc đá thì phải mất vài ngày mới cảm nhận được
hết những kiệt tác thiên nhiên của vùng lòng hồ, núi rừng nơi này.
Con đường vào bản gập ghềnh khó đi, chốc chốc lại gặp những anh, chị
người Dao, người Mông chả quen biết gì đâu nhưng ai cũng tỏ ra thân
thiện đứng lại hỏi han nhau vài câu rồi mời vào nhà chơi như đã thân
nhau từ lâu. Trong câu chuyện thế nào cũng có ly rượu ngô nhấm nháp mời
nhau dạo đầu câu chuyện thêm thắm tình, thật cái bụng. Những ngày đầu
chưa quen, chúng tôi đi đến đâu cũng được mời rượu thành thử lúc chia
tay nhau ra về ai nấy đều chếnh choáng hơi men. Nhớ có lần 3 anh em
chúng tôi về xã Sinh Long lấy tư liệu viết bài. Xong việc rồi, để tỏ
lòng cám ơn bà con, anh em qua nhà mấy bà con chào chia tay. Chỉ cái
việc chào nhau quyến luyến mà suốt từ trưa đến gần tối chúng tôi mới ra
đến xã Yên Hoa. Lần khác, chúng tôi lên bản xa viết bài phản ánh không
khí đón Tết của bà con người Mông. Trời mưa, đường trơn chiếc xe máy
cứ quay ngang không thể bò lên được. Để xe máy bên vệ đường chúng tôi
cuốc bộ hơn 10km vào bản. Chốc chốc lại bắt gặp bà con dắt ngựa, gùi lá
dong, những chàng trai cô gái rủ nhau xuống chợ, dừng lại hỏi han nhau
giữa đường mà cảm nhận được ngay cái tết ở chính họ, làm cho con đường
xa vất vả trở nên gần gũi. Những chuyến đi công tác như vậy đều là
những kỷ niệm khó quên thấm đẫm tình người, tình đất.
Tôi có một anh bạn người Hà Nội tên Tiệp vốn là tay đầy chất nghệ sỹ,
có máu “xê dịch”, cuộc sống mưu sinh, hết vào Nam rồi ra Bắc mà chả nơi
nào trụ nổi quá 3 năm, nếm trải đủ mùi ngọt, bùi, cay, đắng. Ấy vậy mà
đùng một cái hắn báo tin lấy vợ. Người vợ mà Tiệp lấy là một cô gái
người Dao ở mãi tận bản Nà Tấu, xã Sinh Long, huyện Nà Hang. Ở cái tuổi
ngoài “băm” như hắn lấy vợ là phải thôi nhưng nghe nói đến việc hắn
lấy vợ rồi ở luôn đó, nơi chỉ có rừng rú, xa chốn văn minh đô thị thì
ai cũng há hốc miệng ngạc nhiên. Tiệp là một tay làm nghề sửa chữa xe
máy có hạng ở đất Hà Nội và Sài Gòn. Vốn khéo tay lại có máu hội họa,
những lúc rảnh rỗi, Tiệp thường sáng tác tranh ảnh, tạc tượng. Những
tác phẩm của Tiệp chưa được đánh giá cao nhưng cũng đủ cho hắn có thêm
niềm đam mê trời phú.
Chuyện tình của Tiệp và cô gái có tên Viện cũng thật tình cờ, Tiệp kể:
Hôm đó, Tiệp đang ngồi sửa xe máy tại cửa hàng ở khu Gia Lâm (Hà Nội)
thì thấy một cô gái đi xe máy lao thẳng vào đầu con bò, xe ngã ra quẹo
hẳn tay lái về một bên. Thấy vậy, Tiệp chạy ra không nói không rằng dắt
xe đưa vào cửa hàng sửa. Sửa xe xong, Tiệp mới để ý đến khổ chủ của
chiếc xe, một cô gái nhỏ nhắn xinh xắn, đôi mắt đầy vẻ ngơ ngác nhìn
hắn vẻ luýnh quýnh sợ sệt khiến Tiệp có cảm giác yêu ngay từ cái nhìn
đầu tiên. Tiệp không tính tiền sửa xe, chỉ xin số điện thoại. Thế rồi
họ yêu nhau. Lúc đó, Viện đang là sinh viên của Trường Đại học Nông
nghiệp ở gần đó. Ngày Viện ra trường trở về quê Sinh Long những tưởng
là mối tình từ đó tan vỡ.
Tiệp nhớ nhất những hình ảnh lần đầu tiên về nhà Viện. Bữa đấy, nhớ
người yêu quá, Tiệp lấy địa chỉ rồi một mình đi xe máy từ Hà Nội lên
thẳng Sinh Long. Ngày ấy, đường từ thị trấn Nà Hang đi Sinh Long khó
khăn lắm, những khúc đường dốc đá cao lổng chổng khiến Tiệp phải chùn
chân, ngã xe liên tục, suốt từ sáng sớm đến chiều Tiệp mới tìm được đến
nhà Viện. Vừa đói vừa khát, Tiệp bước vào nhà, ngôi nhà gỗ trống trơn
loang lổ những vệt nắng chiều xiên qua tụ lại trên cái nền đất, chẳng
có đồ đạc gì đáng giá. Cả nhà Viện đi làm nương chưa về. Ngả lưng xuống
cái nền đất, Tiệp thiếp đi lúc nào không hay. Bỗng thấy tiếng ịt ịt
rồi có cái gì đó cứ húc vào người, Tiệp choàng tỉnh dậy thấy 1 con lợn
to cỡ bắp đùi cứ húc mũi vào người. Tiệp co chân đạp cho con lợn 1 phát
bắn vào vách gỗ khiến con lợn lảo đảo 1 lúc rồi nằm im. Màn ra mắt gia
đình nhà vợ với Tiệp thật chẳng giống ai. Tiệp bảo: Khổ nhất là cái
hôm đưa mẹ lên thăm nhà con dâu tương lai. Chở mẹ bằng xe máy đi được
đến nửa đường, mẹ khóc cứ nhất định đòi xuống quyết không đi, thuyết
phục mãi bà mới chịu đi tiếp.
Nhấc chén rượu đưa ngang, Tiệp tâm sự có vẻ triết lý: “Nói thật với
ông, tôi lấy vợ và ở lại nơi này trước hết là tôi yêu vợ nhưng chung
quy lại cũng chỉ vì cái tình người ông ạ. Tôi là cái thằng từng đi tứ
xứ nhưng không đâu có được tình người như ở cái đất này. Người ta bảo
“đất lành chim đậu”, đất này chẳng lành đâu còn nhiều khốn khó lắm, chỉ
có con người là lành thôi. Họ nói một là một, chả bao giờ biết suy
diễn thành hai, đó chính là thứ níu giữ chân tôi lại”. Giờ đây gia đình
Tiệp có cơ ngơi là một cửa hàng bán tạp hóa, bên cạnh đó là một xưởng
sửa chữa xe máy ở ngay gần trung tâm xã. Họ có một cô con gái đã được 4
tuổi. Vợ Tiệp, chị Bàn Thị Viện đang làm Phó Chủ tịch HĐND xã Sinh
Long. Lúc rỗi rãi, Tiệp thường kiếm những cành cây, rễ cây rừng về chế
tác thành những tác phẩm điêu khắc rất có giá trị, đó cũng là niềm vui
riêng đối với Tiệp.
máy photocopy , may photocopy
Câu nói triết lý của Tiệp lại một lần nữa tôi được nghe từ chính những
vị bác sỹ, y tá ở Trạm Y tế xã Sinh Long. Bác sỹ Ma Văn Dẫn và Y tá,
trạm trưởng Ma Thị Biên đều là những người ở xa đến đây công tác, đã có
thâm niên ngót 20 năm. Họ nói rằng sống ở đây được bà con dân bản yêu
quý đến mức không thể rời đi. Chị Biên đùa bảo: “Mình ở đây khi nào bà
con hết quý đuổi đi thì mình mới đi”. Thú thật khi nghe họ nói về những
con người giàu tình cảm ở đất này khiến cho họ không thể dứt để trở về
nơi có điều kiện công tác tốt hơn khiến tôi nghĩ rằng, phải chăng tình
đất, tình người nơi đây có một sức hút đến kỳ lạ khiến ai đó một khi
đã cảm nhận được rồi đâm “nghiện”. Và với tôi, một năm với biết bao cảm
xúc, ân tình về mảnh đất này sẽ mãi là những kỷ niệm khó phai.
Theo TQĐT
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét